Thursday, October 6, 2016

Craft of Translation 08

Flu is a scary thing. You just cannot sleep with it. For the night is dark and full of terrors. Terrors run out in streams, from your nose. And you can do nothing about it.
Và vì mất ngủ nên tôi đành ngồi viết mấy dòng.
Một định nghĩa thông thường về dịch thuật hẳn sẽ đại khái là “chuyển văn bản từ ngôn ngữ nguồn sang ngôn ngữ đích.” Người cẩn thận sẽ bổ sung “và giữ nguyên ý nghĩa của bản gốc.” Riêng tôi thì muốn thêm “với số chữ ít nhất.”
Một điều đáng ngạc nhiên là không nhiều người ý thức được tầm quan trọng của tiêu chí này. Hồi còn Facebook, đôi khi tôi vẫn tạt vào một thread nào đó và góp ý rằng câu dịch có thể gọn hơn, và demo tại chỗ một version ngắn hơn từ 10-30% bản cũ. Phản ứng của dịch giả lẫn độc giả nói chung là lịch sự cảm ơn, nhưng qua cách trả lời tôi ít khi thấy họ thật sự cảm nhận được sự khác biệt. This makes me scratch my head (a lot).
Trường hợp này, nếu có gì có thể tạm so sánh với văn bản thì đó là vải hoặc giấy. Một tiêu chí quyết định chất lượng của ga trải giường là  mật độ sợi (đo bằng tpi – thread per inch). Nói chung mật độ càng cao, ga càng mịn và bền (có thể đọc thêm ở đây). Giấy in dùng văn phòng có định lượng từ 70-80 gsm (gram per square meter). Giấy viết thư loại xịn từ 100-120 gsm (cao hơn thì là bìa, là thiệp rồi). Văn cũng vậy, nói chung càng cô đọng (higher density) thì càng hiệu quả. Không phải ngẫu nhiên mà một nguyên tắc quan trọng  của cuốn Elements of Style lừng danh là “Omit needless words.” Và nguyên tắc này có thể áp dụng cho cả viết lẫn dịch.
Thật ra dịch ngắn và lược bỏ chữ thừa là điều tôi đã nói không chỉ một lần, nhưng vẫn cảm thấy cần nhắc lại bằng một entry riêng.
Có điều trước khi nói về chuyện nên tỉnh lược ra sao, tôi muốn nói về chuyện khi nào thì không nên tỉnh lược. Trong chín mươi phần trăm trường hợp, tỉnh lược là giải pháp đúng. Còn lại thì không. Ta không nên (và không thể) tỉnh lược khi:
(i) Viết câu dài, phức tạp là phong cách của tác giả. Chẻ nhỏ một câu phức dài nửa trang của Rushdie thành nhiều câu đơn chính là cách hành quyết ông hay nhất mà một kẻ ủng hộ lệnh Fatwa có thể nghĩ ra.
(ii) Cách diễn đạt bất bình thường thể hiện cá tính của nhân vật. Trẻ con chẳng hạn, có lối tư duy khác người lớn, cách suy nghĩ, quan sát và kể chuyện cũng khác. Bởi vậy gò ép bản gốc thành những câu văn chuẩn mực và gọn ghẽ sẽ là lựa chọn sai lầm.
(iii) Nhạc tính và sự nhịp nhàng của bản gốc gắn liền với cấu trúc và độ dài của câu văn. Cái này thực ra có thể ghép với (i) thành khi tác giả cố ý/có dụng tâm kỹ thuật/nghệ thuật khi viết như vậy. Nhưng tôi muốn tách nó ra riêng.
Truyện kiếm hiệp hay có chi tiết một cao thủ nhảy từ thuyền lên bờ nhưng không tới. Trong cơn nguy cấp y bèn mượn lực từ một cây sào trúc/một chiếc lá sen nổi trên sông và nhẹ nhàng đáp xuống bờ bên kia. Trong dịch đôi khi gặp những chữ như vậy – tưởng là bỏ đi được, nhưng nếu bỏ đi thì… tủm.
Một ví dụ như vậy chính là chữ của trong “Những đứa con của nửa đêm.” Vì sao thì các bạn có thể đọc ở đây (thật ra lời giải thích của Rushdie cũng chỉ điểm tới là dừng, để người đọc tự nghĩ thêm).
Trở lại với tỉnh lược. Có ba loại tỉnh lược. Loại thứ nhất là chữ thừa. Đây chủ yếu là hệ quả của việc dịch word by word.
Một” và “những dấu vết của việc máy móc dịch a/an hoặc danh từ số nhiều.
I saw a man walking a dog on the street.
Cách dịch lỗi điển hình sẽ là:
Tôi thấy một người đàn ông dắt một con chó đi dạo trên phố.
Cách dịch tốt hơn sẽ là:
Tôi thấy một người đàn ông dắt chó đi dạo trên phố.
Rõ ràng “một con” ở đây là thừa, vì theo lẽ tự nhiên chúng ta sẽ phán đoán rằng chỉ có một con chó, hơn nữa số lượng chó (1) trong trường hợp này không có ý nghĩa gì quan trọng để buộc phải dịch. Ta chỉ nên dịch khi số từ có ý nghĩa nhất định – ví dụ mọi khi ông ta dắt hai con, hôm nay chỉ còn một con.
Nếu căn cứ theo ngữ cảnh mà giới tính của nhân vật cũng không quan trọng thì thậm chí ta còn có một câu ngắn hơn:
Tôi thấy một người dắt chó đi dạo trên phố.
Sở hữu cách (của)
Madritsch and Titsch drank their coffee quickly and excused themselves.
Nhiều người sẽ máy móc dịch chữ their thành của họ. Đâu cần thiết, vì không lẽ họ lại uống cà phê của người khác?
Madritsch và Titsch mau chóng kết thúc ly cà phê và cáo lui.
Ngoài ra, việc có quá nhiều “của” cũng khiến mạch văn lủng củng. Ta không bắt buộc phải dịch tất cả những his/her/their và nhất là of thành của. Inhabitants of the earth không nhất thiết phải là cư dân của địa cầu mà có thể là cư dân trên trái đất; students of Harvard không buộc phải là sinh viên của trường Harvard, bỏ “của” đi cũng chẳng chết ai.
“Đã
Một cách bản năng, chúng ta phản ánh thì quá khứ thành chữ “đã.Đôi khi chữ “đã” là không cần thiết. Bản thân ngữ cảnh nhiều khi đủ để ta hiểu ở đây có một chữ “đã” ẩn. Thế chiến thứ hai đã kết thúc năm 1945.
Trùng ngôn
Khi hai vế có cùng chủ ngữ, biến vế thứ nhất thành ngữ động từ sẽ làm câu văn gọn ghẽ hơn.
Dưới đây là một đoạn đầy đủ những lỗi trên:
Những người du kích cưỡi ngựa vào một làng, giữa ban ngày. Họ lôi một viên trưởng làng và con trai ông ta ra khỏi nhà. Họ dùng que sắt quất vào đầu hai người, cho đến khi ngã gục. Rồi họ giết chết dưới đất. Tôi ngồi ở cửa sổ, tôi đã nhìn thấy hết. Trong số du kích, có anh trai tôi. Khi anh vào nhà và muốn ôm hôn tôi – “Em gái!” tôi rú lên… Rồi tôi thành câm. Suốt một tháng, tôi không nói một tiếng.
Anh tôi chết trong chiến tranh… Nhưng nếu anh còn sống, không biết anh sẽ thế nào? Và nếu anh trở về nhà… Tôi không biết… Tôi có nói lại được không?
Tôi bị chấn thương tâm thần vì chiến tranh, mãi mãi…”
Cần gì “những người”? Chữ “họ” ở câu sau đã gián tiếp cho thấy có nhiều du kích. Và cần gì “một”? Ngôi làng này của chính người kể chuyện chứ đâu phải một ngôi làng bất kỳ? Một làng chẳng lẽ có hai trưởng làng mà lại cần “một viên”? Chữ “con trai” đi sau trưởng làng thì cần gì “ông ta”? “Đến khi” là đủ, cần gì “cho” nữa? “Tôi nhìn thấy hết” là đủ, cần gì “đã” nữa? Hai câu cùng chủ ngữ thì có thể bỏ một chữ “anh” đi.
Chỉ cần dụng tâm lưu ý, chữ thừa tương đối dễ phát hiện và dễ sửa, vì từ khi xuất phát ta đã biết mình phải tìm gì. Loại thứ hai khó phát hiện, khó sửa hơn: cấu trúc câu chưa tối ưu, và có thể điều chỉnh lại để tạo điều kiện lược bỏ một số chữ.
Ví dụ câu này:
Cái tường vừa có màu tím, vừa có màu vàng, sàn nhà màu xanh thì thật là thảm hại, chả ăn nhập gì với nhau cả.
Đây là bản dịch nháp của một người bạn, tôi tin rằng bản cuối sẽ chỉn chu hơn, but here’s my two cents:
(Cái) tường vừa tím vừa vàng, sàn lại màu xanh, trông thật thảm hại, chả ăn nhập gì hết.
Hoặc như đoạn này:
“Don’t you know me?” he asked, just like a man --a football star or a violinist—whose sense of his own celebrity has been hurt by a stranger’s failure to recognize him. “I’m Schindler.”
Thay vì vụng về bám sát cấu trúc của bản gốc: sự thất bại của một người lạ mặt trong việc nhận ra mình, ta chuyển phrase này thành một mệnh đề, vừa gọn ghẽ, vừa xuôi tai:
“Cô không biết tôi ư?” ông hỏi, như một ngôi sao bóng đá hoặc một nhạc công vĩ cầm, ý thức về sự nổi tiếng của bản thân bị tổn thương vì người ta không nhận ra mình. “Tôi là Schindler.”
Loại thứ ba, cũng không đơn giản, ấy là khi có thể thay thế một cụm từ bằng một từ khác hàm súc hơn. Phương án này thường là Hán Việt. Lonely and quiet có thể dịch cực gọn thành “cô tịch.” Có điều vẫn cần cân nhắc màu sắc hàn lâm của nó – nếu đây là lời nói của một đứa trẻ thì lại không nên, vì trẻ em khó lòng có vốn từ vựng già nua như thế.
Hay cái tên “Unbearable lightness of being” có thể được Trịnh Y Thư dịch rất đắt thành “Đời nhẹ khôn kham.” Muốn làm được như vậy thì người dịch phải có vốn từ vựng rất rộng, đồng thời ít bị lệ thuộc vào từ điển, vốn thiên về giải nghĩa (làm dài ra) chứ ít khi cô đọng.
Có hai cách để có vốn từ vựng tốt. Cách thứ nhất, mưa dầm thấm lâu, là đọc sách. Cách này thiết tưởng ai cũng biết, tôi không bàn nhiều. Cách thứ hai, tôi tạm gọi là cách “luyện thi,” là đọc từ điển. Một cái thú của tôi là đọc từ điển Hán Việt của Đào Duy Anh, đọc trước khi đi ngủ và khi ngồi toilet. Từ điển của Đào quân giống như một thứ sách điển tích cô đọng, cơ hồ từ mục nào cũng hàm chứa một câu chuyện. Mỗi lần chỉ đọc vài từ, giở ngẫu nhiên như bói Kiều, chán lại bỏ xuống, không cần miễn cưỡng. Hãy tin tôi, đọc từ điển của Đào quân sẽ khiến ta thường xuyên phải ồ à vì những khám phá mới mẻ mà nó mang lại.
Dài quá rồi, tôi lại tạm nghỉ ở đây.

Sunday, July 31, 2016

Ghi vội về 3:10 to Yuma và True Grit

Vài năm gần đây, xuất hiện vài phim Western remake. Trong số này, nổi bật nhất có lẽ là 3:10 Yuma 2007, remake bản 1957, và True Grit 2010, remake bản 1969.
Khi nói đến remake, rất dễ sa vào tranh luận xem giữa original và remake, phim nào xuất sắc hơn. Nhưng câu hỏi thú vị hơn mà một remake trong trường hợp này mang lại có lẽ sẽ là, Western, as a genre, đã thay đổi như thế nào sau ngần ấy năm?
Điểm chung giữa Yuma 1957 và Grit 1969 là tính kinh điển. Nhiều người không thích phim kinh điển vì tiết tấu chậm, kết cấu đơn giản, tình tiết dễ dự báo. Thật ra xem phim kinh điển cũng như đọc thơ Đường. Ngày nay những câu như "Trừu đao đoạn thuỷ thuỷ cánh lưu, cử bôi tiêu sầu sầu cánh sầu" có lẽ chẳng còn gì mới mẻ. Nhưng hãy nghĩ đến chuyện Lý Thanh Liên viết ra ý tưởng này từ một nghìn ba trăm năm trước. Và một nghìn ba trăm năm sau, nhiều câu thơ khác, của nhiều nhà thơ khác, trau đi chuốt lại, cũng vẫn chỉ là một biến thể của Lý Bạch mà thôi.
Nói vậy không có nghĩa là bản 2007 và 2010 không kinh điển. Ngược lại, cả hai đều là Western revisionism at its best, nghĩa là hai cây đào non (nói đến Western thì hai nhánh xương rồng có lẽ sẽ hợp hơn?) đâm chồi nảy lộc từ hai gốc cây già.
Bốn bộ phim là bốn cuộc hành trình. Yuma là hành trình tìm lại tôn nghiêm của gã cao bồi Dan Evans. Grit là hành trình phục hồi công lý của cô thiếu nữ Mattie Ross. Hành trình của Yuma thì ngắn - từ Bisbee đến Contention chỉ chưa đầy năm mươi cây số. Hành trình của Grit thì quan san muôn dặm. Nhưng cả hai đều đầy rẫy thử thách với nghị lực, lòng tin, và dũng khí của người đi.
Điểm chung thứ hai của Yuma 1957 và Grit 1969 là tính lãng mạn nguyên thủy của Western. Cả Dan lẫn Mattie đều có những cái kết đẹp. Nói theo kiểu Tàu là "công thành thân thoái". Hậu thân của họ mấy chục năm sau thì không thế. Mattie trả giá cho công lý bằng một cánh tay và một cuộc đời cô độc. Còn Dan đánh đổi tôn nghiêm bằng cả tính mạng mình.
Không chỉ có vậy. Viễn Tây trong mắt hậu thế - nghĩa là James Mangold và anh em nhà Coen, còn khắc nghiệt hơn của tiền nhân nhiều lắm. Năm 1957, ánh mắt thất vọng của vợ và hai đứa con trai đủ thôi thúc để Dan lãnh sứ mệnh mà cả Bisbee từ chối - áp giải Ben Wade đón chuyến tàu đi Yuma. Năm 2007, để làm được điều này, Dan cần thêm một trang trại bị đốt và một quá khứ đáng hổ thẹn trong cuộc Nội chiến. Năm 1969, cuộc viễn du của Mattie ít nhiều vẫn mang bóng dáng một chuyến phiêu lưu. Năm 2010, dù theo lời cô, đó chỉ là "một thời sôi nổi" (lively times), nhưng có thể nói Mattie đã đến địa ngục rồi lại quay về.
Cái đen tối và khắc nghiệt của bản 2007 và bản 2010, phải chăng đã ánh xạ nhân sinh quan của thập niên đầu thế kỷ 21, một thập niên được khởi đầu và định hình bằng sự kiện 11.9, đầy rẫy bạo lực, bế tắc và mạt pháp? Nét lạc quan duy nhất có lẽ nằm trong phát đạn cuối cùng của Ben Wade dành cho Charlie Prince. Đó chính là giá trị bất biến của Western: bảo trì nguyên tắc hành xử của mình trong mọi hoàn cảnh. Ben không đi đường chính. Y chọn nẻo tà. Nhưng dứt khoát không đặt chân vào lối ác.

Sunday, July 10, 2016

Craft of Translation 07

Ở Việt Nam, một trong những tính từ thường gặp nhất khi bình phẩm về một bản dịch là “mượt.” Dịch rất mượt. Mượt dường như đã thành tiêu chí tối hậu để đánh giá chất lượng bản dịch. Dịch sai nhưng mượt nhiều khi vẫn được khen – dĩ nhiên cái này cũng khó tránh vì phần lớn độc giả chỉ biết tác phẩm qua bản dịch. Đôi khi tôi tự hỏi: phải chăng vì ta là một dân tộc của văn học truyền khẩu, của truyện thơ (thời cận đại Việt Nam gần như không có tiểu thuyết), nên “êm tai” đã thành một thứ chuẩn mực của văn chương. Không chỉ vậy, êm tai còn là tiêu chí về cách sống – người khôn ăn nói dịu dàng dễ nghe.
Tất nhiên, nội hàm của chữ mượt vốn rất vô chừng, và thước đo độ mượt của mỗi người cũng lại khác nhau. Với độc giả thông thường, mượt nghĩa là trơn tru, sạch sẽ, dễ hiểu. Với độc giả đòi hỏi (và có thể ở trình độ) cao hơn, đó là mượt mà, bay bổng, đẹp đẽ. Điều oái ăm là một bản dịch đôi khi bị chê đầy oan uổng là không đủ độ mượt vì trót trung thành với bản-chất-không-mượt của nguyên tác. Dịch Cormac McCarthy hoặc Raymond Carver mà mượt thì không hiểu có cách nào giết tác giả tàn nhẫn hơn không? Việt Nam hình như đã dịch sáu quyển McCarthy, nhưng có vẻ không một cuốn nào gây được tiếng tăm gì (ngoại trừ The Road), không biết là do dịch quá dở hay do văn phong McCarthy không hợp khẩu vị độc giả Việt?
Mượt hay không mượt là một câu hỏi mà mỗi dịch giả phải tự trả lời cho bản dịch của mình. Vấn đề là làm thế nào để mượt, hoặc không?
Để trả lời câu hỏi ấy, trước tiên phải tìm hiểu cơ chế cảm nhận văn bản của độc giả. Khi đọc bằng mắt, ta đồng thời cũng đọc thầm trong miệng và nghe thầm bằng đôi tai ảo trong đầu. Thế nên khi đọc thơ ta mới cảm nhận được nhạc tính và nhịp điệu của văn bản dù không đọc thành tiếng. Nếu ví văn bản như một tấm vải thì đọc chính là quá trình ngắm nhìn những họa tiết, đồng thời sờ và cảm nhận xem bề mặt ấm hay mát, phẳng phiu hay gồ ghề, mịn màng hay thô ráp. Có lẽ một phần cũng bởi vậy mà cổ nhân vẫn tán tụng một áng văn chương đẹp đẽ là “tú khẩu cẩm tâm” – lòng gấm miệng vóc. Hiệu ứng thị giác của mượt là điều khá dễ hiểu - độc giả Việt vốn ưa những từ ngữ đẹp đẽ, thanh nhã, giàu sức gợi. Đến mức đôi khi bản dịch vì trung thành với nguyên tác mà bị chê là thô tục. Nhưng tôi muốn bàn đến một khía cạnh ít được chú ý hơn: hiệu ứng thính giác của mượt, hay nói cách khác là texture của bản dịch.
Đặc thù của tiếng Việt là thanh điệu. Trong tiếng Anh I love you có thể đọc thành ai lớp viu, ài lơp víu, ài lợp vìu… Tiếng Việt chỉ có một cách: Anh yêu em. Không bao giờ có ành yều èm hay ánh yếu ém. Đây cũng là cái khó của người nhạc sĩ khi đặt lời bài hát tiếng Việt: dấu thanh phải tương hợp với nốt nhạc thì hát nghe mới xuôi. Muốn biết một bài hát đặt lời kém trái tai ra sao, xin mời nghe Quốc tế ca.
Vì thế cho nên, dịch đúng về nghĩa là một chuyện, điều khiển nhịp điệu của câu văn để tái tạo chính xác âm hưởng của nguyên tác lại là chuyện khác. Có khi cần du dương uyển chuyển, có lúc phải mạnh bạo dứt khoát, có khi nên gai góc xù xì, có lúc lại ung dung đài các. Để làm được điều đó, người dịch phải có cái tai thính nhạy, cảm nhận được từng thay đổi vi tế trong âm điệu, tiết tấu của văn bản. Khi chọn chữ để dịch, tiêu chí hàng đầu bao giờ cũng là đúng về nghĩa, nhưng khi có nhiều lựa chọn đúng thì việc chọn chữ nào có thanh điệu phù hợp nhất sẽ quyết định cái hay.
Lấy ví dụ mấy câu thơ này của Hoàng Cầm:
Sông Đuống trôi đi
Một dòng lấp lánh
Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kỳ
Xanh xanh bãi mía bờ dâu
Ngô khoai biêng biếc
Đứng bên này sông sao nhớ tiếc
Sao xót xa như rụng bàn tay
Ở câu thứ tư, nếu ta đảo thành “Xanh xanh bờ dâu bãi mía” thì về nghĩa rõ ràng không thay đổi gì, nhưng âm điệu nghe rất nghịch. Đấy là vì chữ mía mang thanh trắc, đặt ở cuối làm câu thơ như bị hất ngược lên, trong khi chữ dâu là thanh bằng – làm tứ thơ mềm đi và như bồng bềnh trong nỗi nhớ. Giả sử đây là một câu dịch, và trình tự bản gốc là bờ dâu/bãi mía, thì người dịch nếu nghe thấy không xuôi hoàn toàn có thể chủ động đảo lại.
Tương tự, câu thứ năm có bản chép là xanh biếc. Chữ xanh ấy làm sao hay bằng biêng. Biêng biếc có âm điệu du dương, nghe như dài nhung nhớ. Xanh biếc nghe rất gần, rất thật. Biêng biếc nghe xa xôi và có phần mộng ảo. Đọc câu này bỗng nhớ bàn tay chấp chới lướt trên cánh đồng lúa mì của Gladiator. Tuyệt đích nhất chính là vần biếc/tiếc. Hai thanh trắc sắc ngọt như hai nhát dao chém vào tấm lòng hoài hương. Hai nhát chém để lại dư âm “sao xót xa như rụng bàn tay.”
Phân tích nhảm như vậy để thấy rằng tiết tấu, thanh điệu có ý nghĩa như thế nào đối với tính biểu cảm của văn bản. Tôi chọn Hoàng Cầm làm ví dụ bởi thơ của ông rất gần với văn xuôi. Và có những áng văn rất gần với thơ.
Thứ nhạc cảm văn chương này không tự nhiên mà có. Nó là kết quả của một quá trình. Trước năm 25 tuổi, chưa bao giờ tôi nghĩ đến chuyện dịch sách. Nhưng có lẽ tôi có duyên với nó, bởi từ năm 14 tuổi, tôi đã rất thích cổ văn. Tôi nhớ mười năm trước, có một cô học trò khiến cả nước chấn động vì chê Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc khô khan, khó hiểu, và khẳng định “10 học sinh như em thì có 9 người cũng không thích tác phẩm này.” Có lẽ tôi chính là cái một người còn lại ấy. Tôi thích tất cả những bài văn biền ngẫu được học và đọc thêm thời phổ thông – Hịch tướng sĩ, Bình Ngô đại cáo, Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, Bạch Đằng giang phú… Và dĩ nhiên là tôi mê cổ thi – từ Bầu trời cảnh bụt của Chu Cán Thần đến Ngọc lộ điêu thương phong thụ lâm của Đỗ Công Bộ.
Sở dĩ nhắc lại chuyện cũ vì tôi tin rằng cách tốt nhất để rèn luyện nhạc cảm văn chương là đọc văn biền ngẫu và cổ thi. Đây có lẽ là một gợi ý khá kỳ quái đối với không ít người. Nhưng thực sự nó rất logic. Nhiều người chê văn biền ngẫu là lỗi thời. Thể văn này lỗi thời thì đúng rồi, nhưng thủ pháp của nó thì không bao giờ. “It’s made it harder for a hardworking family to pull itself out of poverty, harder for young people to start their careers, tougher for workers to retire when they want to.” Câu này trích từ State of the Union Speech của Obama năm 2016. Không khó nhận ra, hai cụm in nghiêng là một sự đăng đối hoàn chỉnh. Nó đâu có khác gì hai câu “Nặng nề những nỗi phu phen, tan tác cả nghề canh cửi” trong Bình Ngô đại cáo? Thủ pháp song hành (parallelism) trong tiếng Anh và biền văn trong tiếng Việt tuy hai mà một. Câu tiếng Anh đối tương đồng (harder/tougher) lẫn tương phản (start/retire), câu tiếng Việt cũng vậy: nặng nề/tan tác là tương đồng, phu phen (đàn ông)/canh cửi (đàn bà) là tương phản. Một người nắm chắc những thủ pháp của biền văn, chắc chắn sẽ nhìn ra những dụng tâm tương tự trong phát biểu của Obama, và sẽ dịch tốt bài diễn văn ấy: Nó khiến con đường thoát nghèo của một gia đình cần lao gian truân hơn, tham vọng khởi nghiệp của người trẻ trắc trở hơn, mong muốn nghỉ hưu của người già khó khăn hơn…
So với thứ văn xuôi hùng biện của tiếng Anh, biền văn còn chặt chẽ hơn, cầu kỳ hơn. Hai câunặng nề những nỗi phu phen, tan tác cả nghề canh cửi” không chỉ đối ý mà còn đối cả từ láy (nặng nề/tan tác, phu phen/canh cửi), đối thanh và tuân theo luật bằng trắc (nhị tứ lục). Và so với biền văn thì cổ thi còn cô đọng hơn, biểu cảm hơn – hãy nhớ đôi danh cú của Bà huyện Thanh Quan: Sóng lớp phế hưng coi đã rộn, chuông hồi kim cổ lắng càng mau. Có bản chép coinghe. Nếu hiểu rõ thủ pháp đối ngẫu thì ta sẽ thấy ngay coi là lựa chọn đúng, bởi nghelắng đều tả ấn tượng thính giác, riêng coi là ấn tượng thị giác; mỗi câu một vẻ sẽ khiến tứ thơ đăng đối một cách toàn bích hơn.
Tóm lại, biền ngẫu và cổ thi chính là uy lực của tiết tấu và thanh điệu vận dụng đến cực hạn, thậm chí cực đoan. Mỗi chữ đều là kết quả của sự cân nhắc và lựa chọn kỹ lưỡng nhằm tuân thủ những quy tắc khắt khe. Tương truyền Chu Du năm xưa rất sành âm luật, đang ngồi trên tiệc mà nhạc công gảy sai là ông ngoảnh lại nhìn ngay (thế nên mới có câu thơ “Dục đắc Chu lang cố, thời thời ngộ phất huyền” – muốn được Chu lang nhìn đến, thỉnh thoảng lại gảy sai cung đàn). Đọc nhiều, tìm hiểu kỹ biền văn/cổ thi sẽ giúp người dịch có được sự nhạy cảm tương tự, từ đó có thể dễ dàng khống chế nhịp điệu câu văn theo ý mình. Không phải lúc nào ta cũng cần đến nó, nhưng tôi dám chắc đây là một kỹ năng sẽ được người dịch sử dụng khá thường xuyên. Believe me, it helps a lot.