Sunday, January 13, 2013

Amour

Michael Haneke có lẽ rất có duyên với Việt Nam khi có đến hai bộ phim của ông từng công chiếu ở đây: năm 2006 là Hidden và năm nay, trong dịp Liên hoan phim quốc tế Hà Nội, là Amour. Khán giả Hà Nội có lẽ cũng rất có duyên với Amour, vì hơn một tháng sau khi ra mắt người hâm mộ Thủ đô, bộ phim được đề cử Oscar 2013 trên cả hai hạng mục Phim hay nhất và Phim nói tiếng nước ngoài hay nhất. Đã 13 năm, kể từ khi Lý An làm được điều này với Ngọa hổ tàng long.

Hai trăm ba mươi bảy là tổng tuổi của ba con người đã làm nên một Amour khiến phòng chiếu của Megastar lặng đi khi 127 phút nặng nề, ngột ngạt đã trôi qua, và cũng khiến vài người bỏ về khi chưa quá nửa phim. Michael Haneke tròn 70, còn Jean-Louis Trintignant đã 82. Và Emmanuelle Riva, tròn 86 vào Lễ trao giải Oscar lần thứ 85, đã đi vào lịch sử khi là người già nhất được đề cử Nữ diễn viên chính xuất sắc.

Để làm Amour, Haneke phải vời đến hai tên tuổi lão làng của điện ảnh Pháp. Một người lừng lẫy với And God created Woman, còn người kia nổi danh với Hiroshima mon amour. Họ vào vai một cặp vợ chồng nghệ sĩ dương cầm già, sống cách xa cô con gái duy nhất (Isabelle Huppert) ở Paris. Khi Anne bị tai biến sau phẫu thuật, Georges âm thầm vật lộn trong sự già nua và cô độc để săn sóc bà. Sau vài phút đầu quay ngoại cảnh, câu chuyện của Amour trở về xoay quanh những sinh hoạt hàng ngày của Georges và Anne trong cuộc sống hậu-tai-biến của họ.

Haneke chọn Trintignant và Riva, không chỉ bởi danh tiếng và kinh nghiệm diễn xuất, mà còn bởi vẻ đẹp thanh tân của họ đã vĩnh viễn được bảo tồn trong những thước phim kinh điển của thập niên 50, khiến việc phải chứng kiến họ già nua và chậm chạp, nhăn nheo và khô héo trên màn ảnh, đã là một sự trừng phạt đối với người xem. Bản thân họ càng ý thức hơn ai hết, câu chuyện của Georges và Anne cũng chính là câu chuyện của họ, ở một tương lai không xa. Cuộc chiến đấu vì sự tự tôn trên phim chính là cách họ tập dượt cho mình, và bởi thế họ đã dốc vào đó trọn vẹn chút trí lực lẫn sinh lực còn lại của tuổi già.

Từ đầu phim, chúng ta đã biết Anne sẽ chết. Câu hỏi đặt ra là, cái chết đến với bà như thế nào? Và Georges ở đâu, làm gì trong suốt quá trình này? Với sự tàn nhẫn quen thuộc, Haneke không cho người xem một câu trả lời ngắn gọn, đơn giản, dễ dàng. Ông bắt chúng ta phải chứng kiến từ đầu đến cuối, phải cùng với Georges và Anne chầm chậm trải qua từng giây phút khó khăn, tuyệt vọng, đau xót, thậm chí tủi hổ và mất tự tôn của họ. Không phải ngẫu nhiên Haneke lại đưa vào đầu phim một cảnh tĩnh khá dài, khi Georges và Anne nghe hòa nhạc, ngồi lẫn trong khán phòng cùng đông đảo khán giả. Đó là một nghịch lý đầy chua xót: khi ra xã hội, họ là thành phần trí thức, họ thuộc về một cộng đồng “élite”. Nhưng kỳ thực họ hoàn toàn đơn độc. Những người khác, từ cô con gái, từ người học trò, từ bác hàng xóm tử tế, dù nỗ lực bao nhiêu, dù có lòng đến mấy, cũng chỉ chạm đến rìa nỗi đau của họ mà thôi. Ở trung tâm nỗi đau ấy, họ vẫn chỉ có một mình. Đó là bi kịch không chỉ của riêng họ, mà của chung cả một tầng lớp người già ở những xã hội phát triển. Và khi đặt ống kính từ sân khấu nhìn xuống đôi vợ chồng già ngồi lẫn trong đám đông, Haneke đã đặt khán giả vào “cùng một phía” với người học trò của Anne, và với cô con gái cũng là một nhạc công, khiến chúng ta bỗng thấy ăn năn vì đã là một phần trong sự bàng quan của xã hội trước những bi kịch như thế. Bộ phim kết thúc bằng cảnh Eva ngồi lặng giữa ngôi nhà trống, như đang cố hiểu chuyện gì đã xảy ra. Haneke nói, có lẽ cô đại diện cho “lương tri tội lỗi” của chính chúng ta, những kẻ đã mua vé để được chứng kiến nỗi đau của Georges và Anne.

Có thể Trintignant và Riva là hai diễn viên chính, song nhân vật chính của Amour lại là sự chết. Haneke đặt sự chết trước ống kính và nhẩn nha quan sát, phơi bày từng bước đi tàn nhẫn của quá trình hoại tử này. Ta biết rõ điều gì sẽ đến, nhưng mỗi khi sự chết dấn thêm một bước, ta vẫn không nhịn nổi phải rùng mình trước sự bất lực vô cùng ấy. Một phần không nhỏ câu chuyện diễn ra trong phòng đọc, nơi hai bức tường ken đầy sách vở, băng đĩa, và cây đàn dương cầm trang trọng đặt bên cửa sổ. Căn phòng là tượng trưng cho một đời tích lũy tri thức của hai vợ chồng, cũng là thành lũy cuối cùng của họ, hai tâm hồn cao quý trong cuộc chiến hoang mang mà tất bại với bệnh tật. Haneke còn ác ở chỗ, khi khán giả vẫn đang đờ đẫn với sự chậm rãi của câu chuyện thì ông đột ngột cắt cảnh để đẩy nỗi đau lên một tầng cao mới, không để cho chúng ta chút thời gian chuẩn bị nào. Cả hai lần Anne đột quỵ đều không xuất hiện trên phim. Màn ảnh tối đi một giây và khi sáng lên thì bà đã ngồi hoặc nằm đó, liệt nửa người hoặc toàn thân. Và, tột đỉnh của nỗi đau, khi ập tới, đã đâm thấu tim người xem đúng lúc ta ít đề phòng nhất, làm ta tê liệt hoàn toàn. Kể cả những khán giả giàu kinh nghiệm, và dự báo được tình huống ấy, có lẽ cũng khó lòng chịu đựng nổi khi nó xảy ra.

Nhưng, khác với Funny Games và Hidden, với Amour, Haneke lại bộc lộ một niềm cảm thông hiếm thấy ở người đạo diễn của những cảm xúc cực đoan này. Có thể bởi Amour xuất phát từ niềm đau riêng của chính ông, khi phải chứng kiến người dì đã nuôi ông thành người vật vã với bệnh tật ở tuổi 92, và cuối cùng đã kết liễu cuộc đời bằng một liều thuốc ngủ. Trintignant đã thay ông tái hiện trải nghiệm bi thảm ấy một cách chân xác nhất. Cái cách Georges từ chối đưa Anne vào viện, từ chối sự giúp đỡ của mọi người, từ chối cho Eva gặp mẹ làm ta phải buốt lòng bởi nó vừa ngoan cố, vừa khùng điên, lại vừa anh dũng. Và dũng cảm không kém là Riva, khỏa thân ở tuổi 85, để phơi bày tận cùng sự bất lực, không thể phản kháng mà tuổi tác và bệnh tật luôn chực chờ giáng xuống chúng ta, qua đó giúp Haneke truy cầu câu trả lời tàn khốc nhưng vô phương né tránh về bản chất của sự chết.

Vị khách cuối cùng ghé thăm đôi vợ chồng già là một chú bồ câu, một biểu tượng kỳ lạ của sự sống. Cảnh Georges lùa bắt chú chim trong gian sảnh tối tăm và kín cửa là ẩn dụ về nỗ lực tuyệt vọng của ông, đuổi bắt sự sống cho Anne trong ngôi nhà biệt lập, nơi sự chết đang dần chế ngự. Cả hai quá trình chỉ làm nổi bật thêm sự già nua, yếu đuối, bất lực nơi ông. Và, sau cùng, như trong một Tình già khác, dẫu “buông nhau làm sao nỡ”, ông đã buông tay. Trong cả hai lần. Và không hẳn là không có chút nhẹ nhàng, thanh thản.

Bài đã đăng trên Thể thao Văn hóa Đàn ông số tháng 2/2013.

No comments:

Post a Comment